Showing posts with label Website. Show all posts
Showing posts with label Website. Show all posts
Màu sắc là một phần trong cuộc sống của chúng ta và đối với một người thiết kế thì màu sắc vô cùng quan trọng. Một sản phẩm đẹp là sự phối hợp hoàn hảo của bố cục và màu sắc. Do đó, màu sắc phù hợp sẽ làm cho thiết kế trở nên sinh động, bắt mắt và nó trực tiếp tác động đến cảm tình của người xem. Trong bài nay, mình sẽ giới thiệu với các bạn định nghĩa về màu sắc, các hệ màu, các gam màu trong thiết kế.

Phần 1: Màu sắc và phân loại màu sắc

Màu sắc là gì?

Màu sắc đã có từ rất lâu, nhưng mà vẫn chưa có một định nghĩa chung nào dành cho màu sắc. Và có lẽ con người là một trong những sinh vật may mắn nhất có thể nhận biết được màu sắc. Thông thường, mắt người nhận biết được vô vàn màu sắc và các màu sắc đó luôn biến đổi dựa trên mối tương quan giữa ánh sáng và góc nhìn.

Hình ảnh minh họa

Màu sắc trong thiết kế

Trong thiết kế, màu sắc tạo nên sức hút, tâm lý và phong cách. Người ta có thể dùng nghệ thuật phối màu để nói lên ý tưởng của mình mà không cần đến lời nói hay câu văn.
Màu sắc ngoài cái đẹp trời cho còn có một chiều sâu kín đáo, chính cái điều kỳ diệu ấy làm rung động lòng người. Tất nhiên không phải lúc nào màu sắc cũng đẹp, không phải lúc nào màu sắc cũng hài hoà. Vì vậy nghệ thuật phối màu sẽ bù đắp những khuyết điểm đó.
Màu sắc luôn tác động đến cuộc sống của chúng ta. Màu sắc có ngôn ngữ riêng của nó mà chúng ta phải tự cảm nhận. Màu sắc có sức mạnh làm tâm hồn chúng ta rung động.

Các hệ màu trong thiết kế

RGB – Đỏ (Red) Xanh lá cây (Green) và Xanh da trời (Blue). Đây là hệ màu được sử dụng nhiều nhất. Và cũng là hệ màu căn bản và phổ biến nhất trong thiết kế website và chỉnh sửa hình ảnh. Với 3 màu cơ bản này chúng ta có thể phối thành hàng tỉ màu khác, tùy vào mục đích sử dụng.
RGB
Hệ màu RGB
CMYK – Hệ màu này chủ yếu được dung trong in ấn sách báo, tạp chí, v.v. Là sự phối hợp giữa Cyan (da trời), Magenta (tím), Yellow (vàng) và black (đen).
CMYK
Hệ màu CMYK
Lap – là một không gian màu độc lập và chỉnh sửa màu trong hệ của nó là một công việc thú vị vì một sự di chuyển nhẹ nhàng trên kênh a hoặc kênh b cũng tạo ra những thay đổi mạnh mẽ nhất về màu sắc. Lab là hệ màu rất thích hợp trong chỉnh sửa ảnh KTS.
LAP
Hệ màu LAP
Hệ màu HSB -Hue liên quan đến màu sắc, Saturation (độ thấm qua) xác định số lượng màu sắc và Brightness (độ chói) liên quan đến số lượng ánh sáng có trong màu sắc. HSB thường được dùng trong việc chỉnh sửa ảnh chân dung.
HSB
Hệ màu HSB

Các gam màu sắc

Được chia làm 8 loại
Màu nóng: Màu nóng tự mang trong nó sự lôi cuốn và gây chú ý, có tính phản chiếu cao. Tạo nên những ý tưởng tươi vui, cởi mở, kích động, … Nó có tác động mạnh mẽ đến không gian trong bố cục chung. Màu nóng gồm 2 màu chính là đỏ và vàng cùng các màu tương cận của chúng (như cam, hồng, tím đỏ, vàng xanh lục…).
Màu lạnh: những màu cho ta cảm giác mát mẻ, ví dụ như: xanh lam, xanh lá cây, đen, tím…… Màu lạnh làm cho bức hình cảm giác tươi tắn, toả sáng, gợi cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng. Màu lạnh đối lập với màu nóng.
HSB
Màu nóng và màu lạnh
Màu tương phản: là sự đối lập của màu nóng và màu lạnh. Tương phản với các hệ thống các màu gốc: Xanh = C, Vàng = Y, Đỏ = M, nhờ có màu tương phản mà bức hình đạt được sự rực rỡ.
Màu tương phản thường là những màu gốc hoặc có tính gốc cao. Bản thân các màu này có độ mạnh thị giác cao, nên khi đặt cạnh nhau trong một bố cục, các màu sẽ tạo nên thị cảm mạnh. Với những màu nóng và lạnh đứng cạnh nhau, sự tương phản sẽ dịu hơn nếu được thay đổi độ sáng tối.
Màu tương đồng: Với những màu cùng Gam nóng hoặc lạnh có một sự tương quan nhất định, chúng được gọi là màu cùng tone, hoặc màu tương đồng. Trong thực tế, màu tương đồng vẫn có thể chứa một lượng màu tương phản hoặc ngược lại, vấn đề là phải xem xét lượng màu trên một diện tích và vai trò của nó đến quan hệ hoà sắc.
HSB
Màu tương đồng
Màu vô sắc: Là những màu mà khi ta hoà trộn chúng với nhau không tạo nên được màu mới. Ví dụ đen, trắng và các thang độ xám khi được hoà trộn.
LAP
Màu vô sắc
Màu bổ túc: Những cặp màu bổ túc là những cặp màu có tính tương phản mạnh, gồm có những cặp màu cơ bản sau đây. Đỏ – Xanh lục, Da cam – Xanh lam, Vàng – Tím. Những màu này không thể gây cảm cảm giác đồng thời đối với con người, chẳng hạn không thể có một màu gọi là “đỏ – lục” hoặc “vàng – tím”. Điều này tương tự cảm giác về nhiệt độ, không có cảm giác nào được gọi là cảm giác “nóng – lạnh”, mà là “nóng” hoặc “lạnh”.
Màu sắc độ: Đây là thuật ngữ để chỉ độ đậm nhạt của từng loại màu. Sự thay đổi này phụ thuộc vào việc ta cộng thêm màu đen hay màu trắng cho màu gốc để tạo nên các dải màu. Màu trắng sẽ cho ta màu sáng hơn còn màu đen thì ngược lại.
Màu sắc điệu: Là khái niệm chỉ sự biến thiên của màu sắc. Sự kết hợp giữa các màu hữu sắc sẽ cho ta thấy điều này. Bạn có thể dễ dàng hiểu được thế nào là một bức hình “ ngả vàng”, tone xanh hay thiên đỏ… đó chính là hiệu quả của sự kết hợp các màu. Màu đen, trắng và xám không có sắc điệu mà chỉ có sắc độ mà thôi.

Vòng tròn màu căn bản (The color wheel)

Vòng tròn màu căn bản có 12 cung chia đều theo hình nan quạt trên diện tích hình tròn, mỗi cung có 8 cấp độ màu đi dần vào tâm vòng tròn từ đậm đến nhạt. 12 cung x 8 cấp độ sẽ tạo ra 106 màu căn bản và được đánh số từ 1 đến 106 đó cũng là kí hiệu khi ta chọn màu.
Ví dụ:
Số 1 là màu đỏ sậm nhất (C:0 – M:100 – Y:100 – K:45) số 36 là màu vàng tươi (C:0 – M:0 – Y:100 – K:0) số 84 (C:80 – M:100 – Y:0 – K:0) là màu tím rượu nếp than (híc nghe mà…thèm) số 68 (C:100 – M:60 – Y:0 – K:0) là màu xanh nước biển…
Colorful
Hình ảnh minh họa
Vòng tròn màu căn bản được tạo ra từ 3 màu: Đỏ – Vàng – Lục lam. Từ ba màu này, màu sắc được pha lẫn hai màu với nhau .
Ví dụ như hình bên trên, ta pha 2 màu Blue+Yellow=Green, Red+Yellow=Orange, Red+Blue=Violet.
Rồi cứ hòa trộn với nhau như thế ta sẽ có hơn 3.400 màu thông dụng nhất trong thiết kế đồ hoạ và nếu cứ pha , pha và pha trộn mãi bạn sẽ có hàng ty tỷ sắc màu cho… riêng bạn.
Theo Google Analytic thì Bounce Rate là tỷ lệ % lượng truy cập vào website hoặc từ trang web khác tới website của bạn và rời bỏ website của bạn mà không xem bất cứ một trang nào khác. Có nghĩa là tỉ lệ người truy cập không tìm thấy thông tin hữu ích trên website của bạn.

VD: Website của bạn ngày hôm qua có thể đem đến cho bạn 100 visitors, trong đó có 65 người sẽ tiếp tục duyệt xem các trang khác còn 35 người thì không, và theo cách tinh đó Bounce Rate có tỉ lệ là 35%.

Có thể nói Bounce Rate là thước đo để nói lên chất lượng của một website. Một website có tỉ lệ Bounce Rate thấp,chứng tỏ website đó là hữu ích với đa số khách truy cập, và vì vậy, các nhà quảng cáo thường chọn những website có tỉ lệ Bounce Rate thấp để thực hiện những chiến dịch quảng cáo của mình, điều đó đồng nghĩa với việc bạn sẽ có thêm một nguồn thu nhập từ việc cho phép quảng cáo trên site của mình.
Vậy Làm Sao Để Giảm Tỉ Lệ Bounce Rate Trên Site Của Bạn?

Có rất nhiều người thắc mắc với câu hỏi này, và sau đây tôi có một vài lời khuyên hữu ích dành cho bạn:

* Người dùng Internet thường thiếu kiên nhẫn khi phải đợi một site load quá lâu, hay site đó không lọt vào mắt xanh ở cái nhìn đầu tiên thì khó có mà lôi kéo họ ở lại đó được. Và vì thế, hãy cải thiện lại tốc độ load trang của website, bện cạnh đó thiết kế phải thật rõ ràng,dễ nhìn, các tiêu đề, navigate link phải cuốn hút và kích thích khách truy cập click vào đó.

* Hãy đầu tư về mặt nội dung cho thật tốt liên quan đến những gì mà khách truy cập tìm kiếm đến. Sử dụng các từ khoá một cách hiệu quả bằng cách thực hiện một số nghiên cứu để xem những từ khóa nào thật sự đem đến traffic cho website của bạn.

* Kết hợp với việc tận dụng cấu trúc Internal Links một cách thích hợp, có thể sẽ giúp cho bạn giữ chân được khách truy cập ở lại site lâu hơn. Vì giả sử, khách truy cập đến với site của bạn với một tìm kiếm cụ thể nào đó nhưng nội dung lại không phù hợp, và nếu có một số liên kết đến với các chủ đề có liên quan sẽ giúp giữ chân được họ ở lại site bạn lâu hơn.

* Tự động tạo ra các bài viết liên quan bằng việc tagging hoặc các từ khóa thích hợp, điều này có công dụng rất lớn trong việc cung cấp một danh sách các bài viết bổ sung có liên quan đến chủ đề bài viết hiện tại của bạn.
Cuối năm ngoái, có thông tin eBay muốn mua toàn bộ Chodientu.vn với giá 15 triệu USD nhưng đến giữa tháng 3.2011, giá eBay mua chỉ vào khoảng 2 triệu USD cho 20%.


Giá trị của đa số các website thương mại điện tử không được công bố rộng rãi nên thường được biết đến với các con số khác nhau. Vậy đâu mới là giá trị thật của các website thương mại điện tử Việt Nam hiện nay?

Tiêu chí định giá

Để tính giá trị một website, các trang mạng nổi tiếng thế giới như Google Ad Planner, Biz Information có cách tính dựa trên các tiêu chí như lượt xem mỗi ngày, số trang, số liên kết, thứ hạng tại một vùng lãnh thổ… Từ những thông số đó, họ tính toán ra giá trị của một website trong một khoảng thời gian nhất định. Cách tính này không dựa trên tiềm năng phát triển của website nên giá trị đưa ra rất thấp so với cách định giá của những tổ chức khác như IDG, General Atlantic…

Tuy nhiên, theo ông Trương Văn Quý, Giám đốc EQ Technology & Communication (chuyên về giải pháp kinh doanh tiếp thị công nghệ số), kết quả đó không không chính xác vì chúng được tính theo công thức, không xét tới các yếu tố khác như tương lai.

Ông Nguyễn Hồng Trường, Giám đốc Phát triển Kinh doanh và Công nghệ của Quỹ đầu tư IDG, cho biết có hàng trăm tiêu chí để định giá website thương mại như dòng tiền tương lai, doanh thu, lợi nhuận. Riêng hình thức thương mại điện tử cũng có hơn 10 loại, mỗi loại có cách định giá khác nhau.

Thông thường tại Việt Nam, theo ông Quý, các website được đánh giá dựa trên giá trị tương lai và tiềm năng của nhà lãnh đạo. Ví dụ, khi rót tiền vào VNG, quỹ đầu tư không chỉ đơn thuần là đầu tư vào Công ty mà cả vào ông Lê Hồng Minh (Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc VNG). Đầu tư vào Vatgia.com được tính đến năng lực của ông chủ Nguyễn Ngọc Điệp.

Hơn nữa, đầu tư vào thương mại trực tuyến Việt Nam hiện nay là đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư thường tính đến tiềm năng phát triển của toàn thị trường, thị phần doanh nghiệp đang nắm giữ và hướng phát triển. Do đó, cái giá họ đưa ra có thể được hiểu là dành cho tương lai chứ không phải hiện tại.

Có thể lấy Google làm ví dụ, Tập đoàn đang lỗ gần nửa tỉ USD mỗi năm vì Youtube.com. Tuy nhiên, với tầm nhìn lâu dài thì Google vẫn tiếp tục bỏ tiền vào trang web này.

Dĩ nhiên, cách định giá trên đôi khi cũng bị sai, như khi eBay mua mạng điện thoại internet Skype với giá 2,6 tỉ USD vào năm 2005 chẳng hạn. Sau 4 năm không thành công như mong đợi và bị lỗ, eBay đã phải bán tháo Skype.

Giá trị và giá cả

Cách đây không lâu, website thương mại điện tử Gophatdat.com được trang mạng Alibaba từ Trung Quốc định giá và muốn mua lại với khoảng 5 triệu USD. Song Gophatdat lại tự định giá cao hơn mức đó gấp 3 lần. Liệu Gophatdat có xứng với mức giá đó không khi mà bây giờ họ gần như đã mất hút trên thị trường?

Người trong ngành định giá Vatgia.com khoảng 60 triệu USD. Tuy nhiên, trên mạng lại loan tin rằng có nhà đầu tư nước ngoài định giá tới 5 tỉ USD. Con số này là quá cao. Ông chủ của Vatgia.com không xác nhận đâu là con số chính xác cũng như từ chối đưa ra mức giá riêng.

Ngang tầm với Vatgia.com là Chodientu.vn, được định giá khoảng 16-17 triệu USD. Tuy nhiên, thông tin hành lang lại cho biết Chodientu tự định cho mình mức giá 70 triệu USD.

“Rất khó biết giá trị thật của các website thương mại điện tử hiện nay. Đó là vấn đề nội bộ của các quỹ đầu tư, phụ thuộc vào nhiều lý do. Có thể Vatgia hay Chodientu chưa có lời nhiều hay có giá cao như vậy, nhưng quỹ đầu tư nhận thấy tiềm năng trong tương lai nên đổ tiền vào”, ông Quý từ EQ Technology & Communication nói.

Chuyện định giá một website thương mại điện tử tương tự như chứng khoán. Nhiều người mua giá sẽ tăng, ít người mua giá sẽ hạ. Nhưng giá trị của website khác với giá cả. Có thể website này được định giá mức đó nhưng không phải ai cũng sẵn sàng trả mức giá cao như vậy để mua. Ngược lại, cũng có thể website được định giá ở mức này nhưng phải trả cao hơn mới mua được, vì còn phụ thuộc vào sự thương lượng của 2 bên đối tác.

Và việc các website tự định giá mình quá cao có thể do họ không muốn bán. Vì thế, xác định giá trị thật của một website thương mại điện tử vẫn là chuyện còn bỏ ngỏ.
Thông tin đầy đủ về sản phẩm, giá cả, phương thức vận chuyển và những “thủ thuật” giữ chân khách truy cập là những điều rất quan trọng để các website bán lẻ có nhiều khách người mua hàng.



Theo hãng phân tích dữ liệu QuBit, các nhà bán lẻ Anh đang mất đi hơn 8 tỷ bảng Anh (12,6 triệu USD) mỗi năm vì website hoạt động kém hiệu quả. Sử dụng công nghệ Exit Feedback, QuBit đã thu thập hơn 18.000 bình luận về các website bán lẻ của Anh và phân tích số liệu để phát hiện ra những vấn đề cơ bản mà các website này gặp phải. Và sau đây là 10 lý do khiến khách truy cập vào website bán lẻ của các công ty không quyết định mua hàng.

Giá cả: Giá cả là vấn đề hàng đầu mà người tiêu dùng quan tâm khi đưa ra các quyết định mua sắm trực tuyến. Sự minh bạch và rõ ràng trong giá cả là chìa khóa của thế giới bán lẻ trực tuyến, bởi việc so sánh giá cả các món hàng, dịch vụ trên Internet dễ dàng hơn rất nhiều so với thế giới thực. QuBit khuyến cáo các website bán lẻ nên đề cập đến các mức giá trong các ngày trước, hoặc tập trung vào “ngày khuyến mãi nào đó trong tuần” nhằm thỏa mãn những khách hàng nhạy cảm về giá.

Miêu tả hàng hóa: hơn 12% phản hồi của người tiêu dùng về các website bán lẻ liên quan đến việc thiếu những thông tin miêu tả rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm. Phần miêu tả phải thật cụ thể, để người xem cảm giác như đang được người bán hàng tư vấn trực tiếp. Điều này đặc biệt quan trọng với các website bán lẻ hàng thời trang, bởi “phần lớn phản hồi về các website bán lẻ hàng thời trang đều thiếu thông tin về kích cỡ quần áo, và đó được xem là lý do chính khiến khách hàng rời khỏi trang mà không ra lệnh mua”. Ngoài ra, những thông tin như chất liệu, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa cũng là điều mà các website bán lẻ nên có.

Thông tin hàng còn trong kho: việc biết rõ hàng còn hay đã hết rất quan trọng để khách truy cập vào website ra quyết định mua hàng. Nếu một sản phẩm đã hết, thông tin kịp thời về tình trạng sản phẩm rất quan trọng. Mặt khác, khách hàng cũng cần có lựa chọn nhận được thông báo khi hàng về, hoặc trang này cần đưa ra những mặt hàng liên quan mà người mua có thể sử dụng.

Các chức năng “phụ” của website: người dùng rất giận dữ khi họ truy cập một trang web với nhiều kỳ vọng và cuối cùng họ lại thất vọng. Những chức năng mà các website đã bỏ lỡ bị người dùng phê bình là không có danh sách những mặt hàng người dùng đã đặt mua, không có những gợi ý mang tính cá nhân, không có phần tìm, lọc sản phẩm….

Thông tin chuyển hàng: Giá cả và thời gian vận chuyển hàng hóa phải được niêm yết rõ ràng. Thiếu thông tin này khiến trang web trở nên thiếu tin cậy. Đặc biệt, thông tin chuyển hàng đi quốc tế và giá chuyển hàng theo từng loại tiền tệ là hai tính năng chính mà các website bán lẻ cần lưu ý.

Hình ảnh: mọi người thích nhìn thấy những gì họ đang mua trước khi ra quyết định mua. Những bức ảnh chất lượng cao từ nhiều góc chụp rất quan trọng để biến người xem hàng thành người mua hàng.

Chiết khấu: Những người được hỏi cho biết không thể tìm thấy nơi để nhập mã chiết khấu là một vấn đề cản trở lớn khi mua hàng trực tuyến. Người dùng rất bối rối tự hỏi liệu những chương trình khuyến mãi, chiết khấu offline có áp dụng với mua hàng online, và nếu có thì được áp dụng như thế nào, có theo khung địa lý không.

Điều hướng: Người tiêu dùng đã quen truy cập những website thương mại lớn như Amazon – luôn có tính năng điều hướng rõ ràng – và họ cũng hy vọng sẽ được hướng dẫn như vậy khi vào các website bán lẻ khác. Những đường liên kết (link) bị hỏng trong khi mua hàng, thiếu các trang đề mục trong thanh điều hướng hay thiếu nút trở về (back) có thể khiến họ rời bỏ trang web.

Video: Video về sản phẩm có thể tăng thêm giá trị cho một trang sản phẩm, và việc thiếu video cũng gây ấn tượng không tốt cho các website bán kẻ. Tốt nhất, nên mang lại trải nghiệm liền mạch cho người xem bằng những video và ảnh chất lượng cao.

Tốc độ tải trang: tốc độ tải chậm là một trở ngại lớn với các website bán lẻ, vì người dùng đơn giản rất ghét phải chờ đợi một website hiện ra. Các nhà bán lẻ nên kiểm tra thời gian tải của website công ty so với các website đối thủ và có những cải thiện kịp thời.